I . TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2008
Năm 2008, mặc dù phải đương đầu với những khó khăn, thách thức có phần gay gắt hơn nhiều năm trước; nhưng được sự quan tâm chỉ đạo và hỗ trợ kịp thời của Trung ương, đảng bộ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã quyết tâm phấn đấu đạt được những kết quả quan trọng trên nhiều lĩnh vực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 11,3%, là mức cao nhất trong 10 năm qua. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực. Huy động vốn cho đầu tư phát triển vượt kế hoạch. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được tăng cường. Thu ngân sách vượt dự toán. Các hoạt động văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ. Đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện. Quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Cải cách hành chính, xây dựng hệ thống chính trị tiếp tục được coi trọng. Đoàn kết trong Đảng, trong nhân dân được tăng cường.
Bên cạnh những thành tích, kết quả đạt được, vẫn còn những mặt hạn chế, yếu kém: tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa đạt kế hoạch và chưa đồng đều giữa các lĩnh vực và các địa phương. Tiến độ thực hiện và giải ngân một số chương trình, dự án đầu tư từ ngân sách còn chậm. Chất lượng các hoạt động văn hóa - xã hội chuyển biến chưa vững chắc. Tỷ lệ người sinh con thứ ba tăng so với cùng kỳ; vẫn còn một số vụ khiếu nại, tố cáo kéo dài, chưa được tập trung giải quyết dứt điểm. Tính chiến đấu và sự quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy Đảng, chính quyền chưa cao. Hiệu quả hoạt động của công tác dân vận có mặt còn hạn chế
Những hạn chế, yếu kém trên có nguyên nhân khách quan. Nhưng, nguyên nhân chính vẫn là:
- Lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền ở một số địa phương chưa thật sự quyết liệt, linh hoạt, sáng tạo; nhất là những việc phức tạp, bất ngờ, mới nảy sinh.
- Cấp ủy chưa kịp thời bố trí, sắp xếp và kiên quyết xử lý đối với một số đồng chí cán bộ, lãnh đạo, quản lý có biểu hiện làm việc cầm chừng; trình độ, năng lực hạn chế.
- Sự phối hợp giữa các ngành, địa phương có việc chưa thông suốt và kém hiệu quả.
II. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM THỰC HIỆN KẾ HOẠCH NĂM 2009
1- MỤC TIÊU
Chủ động dự báo tình hình, kiên quyết vượt qua khó khăn do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế; tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; phát triển kinh tế với tốc độ cao và bền vững, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, phấn đấu đạt mức tăng trưởng kinh tế từ 13,5% trở lên. Đẩy mạnh xã hội hóa và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa - xã hội; thực hiện tốt các chương trình đào tạo nghề và giải quyết việc làm; bảo đảm an sinh xã hội và xóa đói, giảm nghèo; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
2- CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 13,5% trở lên, trong đó: nông - lâm - ngư nghiệp tăng 3,9%; công nghiệp - xây dựng tăng 19,2%; dịch vụ tăng 13,1%.
- Cơ cấu các ngành kinh tế: nông - lâm - ngư nghiệp 27,4%; công nghiệp - xây dựng 37,7%; dịch vụ 34,9%;
- Sản lượng lương thực có hạt đạt 1,6 triệu tấn trở lên;
- Tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt 280 triệu USD trở lên;
- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 20.000 tỷ đồng;
- Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn vượt dự toán Trung ương giao 3% trở lên.
- Giải quyết việc làm cho 53.000 lao động
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 18%;
- 70% số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế;
- 31% trường học đạt chuẩn quốc gia;
- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm 1,5%;
- Tỷ lệ sinh giảm 0,4%o;
- Tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 47%;
- Dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh đạt 87%;
- Tỷ lệ chất thải rắn, chất thải y tế được thu gom, xử lý đạt 77%.
- 80% tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch, vững mạnh; phấn đấu cơ bản các thôn, bản đều có đảng viên.
3- NHIỆM VỤ VÀ CÁC GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM
3.1- Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, tạo sức hấp dẫn các nhà đầu tư; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư phát triển:
Rà soát, sửa đổi, bổ sung kịp thời các quy hoạch, các cơ chế, chính sách phù hợp với thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác vận động, xúc tiến đầu tư; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, tận tâm trong thi hành công vụ; tạo môi trường thuận lợi, thông thoáng cho việc thu hút mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư vào tỉnh.
Phát triển mạnh doanh nghiệp vừa và nhỏ, phấn đấu trong năm 2009 phát triển thêm 950 doanh nghiêp; khuyến khích phát triển các loại hình dịch vụ tư vấn hỗ trợ phát triển doanh nghiệp.
Phấn đấu huy động vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2009 đạt 20.000 tỷ đồng trở lên. Ưu tiên đầu tư kết cấu hạ tầng Khu Kinh tế Nghi Sơn, TP Thanh Hóa và giao thông miền núi; bố trí đủ vốn đối ứng cho các dự án ODA và các dự án quan trọng. Có cơ chế hỗ trợ phù hợp cho phần đối ứng đối với các dự án nước sạch nông thôn. Rà soát, bố trí sử dụng có hiệu quả vốn các sự nghiệp, nhất là sự nghiệp khoa học - công nghệ; quan tâm bố trí vốn đầu tư xây dựng trụ sở xã, kiên cố hóa giao thông nông thôn, duy tu, bão dưỡng các tuyến đường tỉnh lộ; tập trung vốn đầu tư cho các công trình trọng điểm, các dự án lớn, các cơ chế, chính sách đã ban hành, có tác động thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát huy lợi thế của các vùng, miền trong tỉnh.
Tích cực phối hợp với các bộ, ngành Trung ương, các nhà tài trợ để vận động thu hút các nguồn vốn ODA vào các lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, giáo dục, dạy nghề, y tế, xóa đói, giảm nghèo...; rà soát, bổ sung danh mục các dự án kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức thực hiện một số chương trình xúc tiến đầu tư tại các thị trường trọng điểm.
Phối hợp chặt chẽ với Bộ Giao thông - Vận tải hoàn chỉnh đầu tư xây dựng cơ bản tuyến quốc lộ 45 đi Nông Cống; quốc lộ 47 qua Triệu Sơn, Thọ Xuân; đường nối Nghi Sơn - Bãi Trành; triển khai sớm dự án đầu tư nâng cấp đường 217, đường 15 đi Vạn Mai (Hòa Bình); đường Hồi Xuân - Mường Lát; đường Cành Nàng - Phú Lệ; đường Quốc lộ 10 kéo dài; thảm nhựa mặt đường quốc lộ 1A qua TP Thanh Hóa.
3.2- Tập trung tháo gỡ khó khăn, phát huy tối đa năng lực sản xuất của các ngành, lĩnh vực và các thành phần kinh tế:
3.2.1- Dồn sức tạo ra tốc độ tăng trưởng cao trong công nghiệp, xây dựng, trên cơ sở phát huy năng lực sản xuất của các cơ sở hiện có, mở rộng các ngành sản xuất có tiềm năng, thế mạnh:
Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp mà tỉnh có tiềm năng, lợi thế; khuyến khích phát triển một số ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn, diện tích sử dụng đất ít; các ngành sản xuất thu hút nhiều lao động đầu tư tại địa bàn nông thôn. Sớm khẳng định những ngành nghề ưu tiên thu hút đầu tư và những ngành nghề có nguy cơ ô nhiễm môi trường không cho phép đầu tư vào tỉnh.
Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các nhà đầu tư giải quyết khó khăn, vướng mắc, tạo thuận lợi đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án: đóng sửa tàu biển, dây chuyền 2 Nhà máy Xi - măng Bỉm Sơn, Nghi Sơn, Công Thanh; Nhà máy luyện cán thép BOMIDO, Xi măng Thanh Sơn và Nhà máy may Sakurai ... vào hoạt động.
Khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề; khuyến khích phát triển tiểu - thủ công nghiệp, ngành nghề ở nông thôn, đẩy mạnh hoạt động nhân cấy nghề gắn với việc khôi phục các làng nghề thủ công truyền thống của các địa phương.
Chỉ đạo quyết liệt và tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác đầu tư xây dựng cơ bản; huy động cả hệ thống chính trị ở địa phương tham gia công tác giải phóng mặt bằng; phân bổ sớm kế hoạch vốn xây dựng cơ bản ngay từ đầu năm, giải quyết dứt điểm những vướng mắc về cơ chế, chính sách, thủ tục đầu tư, đơn giá xây dựng; sản xuất đủ vật liệu đá, cát, gạch... đáp ứng yêu cầu thi công; phát triển các doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng cơ bản đủ lớn, đủ mạnh... Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các dự án đầu tư, bảo đảm giải ngân hết vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước, vốn ODA, vốn Trái phiếu Chính phủ.
3.2.2- Tạo bước chuyển biến mới trong sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, có năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao và bền vững:
Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động số 56-CTr/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
Khẩn trương hoàn chỉnh Đề án xây dựng vùng thâm canh lúa năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao để triển khai thực hiện ngay từ vụ chiêm - xuân năm 2009. Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, cây trồng, chuyển diện tích lúa mùa trung sang lúa mùa sớm và cực sớm, để chủ động giảm thiệt hại do thiên tai gây ra và tạo quỹ đất cho sản xuất vụ đông. Triển khai du nhập, khảo nghiệm, sản xuất các giống lúa, ngô năng suất, chất lượng cao, gắn với tổ chức lại các đơn vị sản xuất giống, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia, tiến tới chủ động trong việc cung cấp giống lúa có năng suất, chất lượng cao cho toàn tỉnh; ổn định diện tích các vùng trồng nguyên liệu, gắn với đẩy mạnh thâm canh đáp ứng cho các nhà máy chế biến.
Tháo gỡ khó khăn về thủ tục đất đai, đẩy nhanh tiến độ trồng cao su; triển khai xây dựng thí điểm một số mô hình sản xuất rau sạch, sản xuất hoa để rút kinh nghiệm nhân ra diện rộng. Hoàn chỉnh các thủ tục pháp lý và phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành Trung ương trình Chính phủ quyết định chuyển một phần diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng sang rừng sản xuất để triển khai thực hiện phương án trồng cao su và trồng mới, cải tạo rừng sản xuất của tỉnh giai đoạn 2008 - 2015.
Khôi phục nhanh đàn gia súc, khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại quy mô vừa và lớn, bảo đảm an toàn dịch bệnh, tập trung chỉ đạo không để bùng phát dịch bệnh đối với đàn gia súc, gia cầm. Tiếp tục triển khai chương trình cải tạo đàn bò và nạc hóa đàn lợn; chương trình hỗ trợ phát triển chăn nuôi, giết mổ, chế biến tập trung. Hoàn thành quy hoạch các trung tâm dịch vụ nghề cá; tập trung đầu tư phát triển hạ tầng và các ngành dịch vụ phục vụ đánh bắt, chế biến, tiêu thụ hải sản. Xây dựng, phát triển mô hình nuôi trồng thủy sản bền vững, đa loài, đa đối tượng, mở rộng nuôi bán thâm canh và thâm canh; quan tâm các đối tượng nuôi trồng phục vụ chế biến, xuất khẩu. Từng bước sắp xếp lại nghề muối và có cơ chế, chính sách hỗ trợ bảo đảm ổn định sản xuất và đời sống của diêm dân.
3.2.3- Phát triển các ngành dịch vụ:
Khuyến khích phát triển mạnh các ngành dịch vụ có lợi thế, đóng góp nhiều cho tăng trưởng kinh tế và đáp ứng nhu cầu xã hội như: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, du lịch, vận tải... Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá về du lịch; nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch truyền thống, kết hợp với xây dựng các sản phẩm du lịch mới, các tua du lịch đến các khu di tích lịch sử - văn hóa, các danh lam thắng cảnh; thu hút các nguồn vốn đầu tư phát triển hạ tầng du lịch.
Phát triển mạnh các chợ nông thôn và hoạt động thương mại bán lẻ ở tất cả các vùng, miền; khuyến khích hình thành các trung tâm thương mại, siêu thị ở khu vực đô thị, khu vực liên huyện, khu vực cửa khẩu, vùng giáp danh với các tỉnh bạn. Rà soát, điều chỉnh lại chương trình xuất khẩu, bảo đảm khai thác tối đa mọi nguồn lực cho phát triển xuất khẩu, đẩy nhanh tốc độ tăng thu thuế xuất nhập khẩu trên địa bàn.
Nâng cao năng lực phương tiện tiếp nhận, vận tải hàng hóa và vận tải hành khách bằng xe buýt. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các giải pháp của Chính phủ về kiềm chế lạm phát. Tăng cường công tác quản lý thị trường, kiểm tra, kiểm soát việc niêm yết giá và bán theo giá niêm yết; chống đầu cơ tích trữ đẩy giá lên cao, đặc biệt là đối với các mặt hàng thiết yếu và các mặt hàng Nhà nước quản lý giá. Nghiên cứu các cơ chế, biện pháp tận thu các nguồn thu phát sinh trên địa bàn vào ngân sách tỉnh.
3.2.4- Sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tài nguyên, tăng cường công tác bảo vệ môi trường:
Tăng cường thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh hoạt động khai thác khoáng sản, bảo đảm tiết kiệm, có hiệu quả và tránh ô nhiễm môi trường. Kiên quyết thu hồi diện tích đất được giao nhưng không sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích, kém hiệu quả; nghiên cứu thực hiện rộng rãi chính sách giao đất thu tiền sử dụng đất một lần. Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; tập trung giải quyết cơ bản tình trạng ô nhiễm môi trường ở các nhà máy, khu công nghiệp, khu đô thị, bệnh viện; cải tạo và xử lý môi trường trên các sông bị ô nhiễm nặng. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ môi trường; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức cho người dân về bảo vệ môi trường, coi việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của mọi người, mọi nhà và của toàn xã hội.
3.2.5- Ưu tiên các nguồn lực tập trung đầu tư xây dựng phát triển kết cấu hạ tầng Khu Kinh tế Nghi Sơn, tạo sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư:
Đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng các dự án tại Khu Kinh tế Nghi Sơn; trong đó, phấn đấu bàn giao mặt bằng Nhà máy Lọc hóa dầu theo đúng tiến độ cam kết với nhà đầu tư.
Tập trung hoàn thành phê duyệt quy hoạch chi tiết các khu chức năng, quy hoạch phát triển huyện Tĩnh Gia; cụ thể hóa các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư, xây dựng các khu chung cư, phát triển các loại hình dịch vụ thương mại, vui chơi giải trí; tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các dự án triến khai để nhanh chóng có sản phẩm, nhất là dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn phấn đấu có sản phẩm vào năm 2013; chuẩn bị các dự án để đầu tư xây dựng các công trình về hạ tầng thiết yếu như: Cảng chuyên dùng dầu khí, cảng tổng hợp, đường giao thông, hệ thống điện, cấp thoát nước... Đồng thời, sớm khẳng định những ngành nghề ưu tiên thu hút đầu tư và những ngành nghề không cho phép đầu tư vào Khu Kinh tế Nghi Sơn.
3.3- Đẩy mạnh xã hội hóa và tạo bước chuyển biến mạnh về chất lượng các hoạt động văn hóa - xã hội:
Thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học, duy trì vững chắc kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở; ban hành cơ chế, chính sách để giải quyết cơ bản số giáo viên dôi dư hiện nay. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình kiên cố hóa trường lớp học.
Tăng cường phối hợp và liên kết đào tạo giữa các cơ sở dạy nghề với các doanh nghiệp, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội; sớm khởi công xây dựng Trường Cao đẳng nghề Nghi Sơn; rà soát, đánh giá chương trình liên kết đào tạo đại học và sau đại học với nước ngoài.
Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động y tế, tạo thuận lợi để sớm khởi công một số bệnh viện tư nhân. Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích các nhà đầu tư tham gia cùng với tỉnh đầu tư nâng cấp, hiện đại hóa các bệnh viện: Đa khoa, Phụ sản, Nhi, Mắt... để có đủ khả năng điều trị cho khu vực Bắc Trung Bộ. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án nâng cấp bệnh viện đa khoa tuyến huyện và khu vực; nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh ở tuyến cơ sở, giảm tải cho các bệnh viện tuyến tỉnh. Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút cán bộ y tế, đặc biệt là các bác sĩ về công tác tại tuyến y tế xã, phường. Tăng cường tổ chức thanh tra, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm và chủ động phòng, chống dịch bệnh; phát triển mạng lưới cộng tác viên cơ sở để tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách pháp luật về dân số - kế hoạch hóa gia đình.
Tiếp tục đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, nâng cao chất lượng xây dựng làng văn hóa. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án xây dựng trùng tu, tôn tạo các di tích trọng điểm như: Tượng đài Bà Triệu, Lam kinh, Thành nhà Hồ, Gia Miêu Triệu Tường, Phủ Trịnh...
Khuyến khích phát triển thể thao thành tích cao theo hướng xã hội hóa; duy trì và củng cố phong trào thể thao quần chúng, bảo đảm tỷ lệ người tập thể thao thường xuyên đạt 27,5% dân số và 18% gia đình đạt gia đình thể thao. Xúc tiến nhanh thủ tục đầu tư để sớm khởi công Khu Liên hợp thể dục thể thao của tỉnh.
Tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo; điều tra lại thực trạng lao động trong nông nghiệp - nông thôn, xây dựng kế hoạch chủ động bố trí lao động vào làm việc tại các dự án công nghiệp, dịch vụ trong tỉnh. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội đối với hộ nghèo, cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, gia đình chính sách, gia đình bị thu hồi đất, vùng bị thiên tai, dịch bệnh, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; thường xuyên theo dõi, nắm chắc tình hình đời sống nhân dân trên địa bàn để có phương án cứu trợ kịp thời.
Tiến hành nghiên cứu, xây dựng phương án, cơ chế, chính sách hỗ trợ nhân dân sống trong vùng thường xuyên bị lũ lụt, được vay vốn tín dụng để đầu tư xây dựng nâng cấp nhà ở có đủ khả năng phòng tránh lũ và sống chung với lũ, trước mắt chọn xã Thạch Định, huyện Thạch Thành để làm điểm.
3.4- Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, thực hành tiết kiệm và phòng, chống tham nhũng, lãng phí:
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, thực hiện tốt hơn nữa cải cách thủ tục hành chính trong các lĩnh vực đất đai, đầu tư xây dựng, thành lập doanh nghiệp ...; công bố công khai, minh bạch quy trình và thủ tục hành chính trong quá trình giải quyết công việc, làm căn cứ cho nhân dân thực hiện và kiểm tra, giám sát.
Xây dựng Đề án thí điểm tăng cường sinh viên mới tốt nghiệp đại học về làm cán bộ cấp xã, trên cơ sở đó chuẩn hóa và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có năng lực, trình độ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Triển khai thực hiện đồng bộ chương trình phòng, chống tham nhũng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng tỉnh. Đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước với các tổ chức đoàn thể, cộng đồng dân cư, các cơ quan báo chí trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
3.5- Tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội:
Đẩy mạnh xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, an toàn làm chủ, gắn với thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, không để phát sinh thành điểm nóng phức tạp, bất ngờ. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật trong nhân dân. Đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, nhất là tội phạm ma túy, hình sự, tội phạm sử dụng vũ khí nóng, có tính chuyên nghiệp; từng bước đẩy lùi các tệ nạn xã hội; thực hiện đồng bộ các giải pháp kiềm chế và giảm thiểu tai nạn giao thông. Phát động phong trào toàn dân tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm, xây dựng khu dân cư an toàn về an ninh trật tự. Tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án củng cố tổ chức ban an ninh trật tự và mô hình tự quản về an ninh trật tự tại cơ sở. Chú trọng kết hợp củng cố quốc phòng - an ninh với phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm các điều kiện cơ bản về sản xuất, đời sống cho đồng bào các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
3.6- Tăng cường công tác xây dựng Đảng; tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể:
Tổ chức nghiên cứu, quán triệt, học tập và triển khai thực hiện nghiêm túc các chủ trương, nghị quyết của Đảng. Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên; tiếp tục triển khai thực hiện sâu rộng Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Các cấp ủy phải nắm chắc tình hình tư tưởng, phát hiện kịp thời những cán bộ, đảng viên vi phạm về đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí... có biện pháp giáo dục, phòng ngừa, giúp đỡ, đồng thời xử lý nghiêm minh.
Phát hiện và kịp thời củng cố, kiện toàn các cơ sở yếu kém, cơ sở có dấu hiệu phức tạp, mất ổn định. Tăng cường công tác phát triển đảng viên mới, đặc biệt là phát triển đảng trong thanh niên nông thôn và vùng đồng bào dân tộc miền núi. Triển khai thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo, quản lý cho cả hệ thống chính trị, nhất là cán bộ cơ sở.
Tiến hành rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ nhiệm kỳ 2010 - 2015. Thực hiện nghiêm túc chủ trương điều động, luân chuyển, cán bộ chủ chốt của một số ngành, địa phương; chuẩn bị một bước về nhân sự cho Đại hội Đảng bộ và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp. Xây dựng Đề án thực hiện thí điểm Đại hội Đảng bộ cơ sở trực tiếp bầu Ban Thường vụ cấp ủy, bí thư và phó bí thư. Xây dựng và thực hiện tốt chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát của cấp ủy; giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước.
Tăng cường công tác dân vận, phát huy vai trò của mặt trận và các đoàn thể, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 05-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường công tác dân vận trong tình hình mới; tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể gắn với tuyên truyền, vận động nhân dân, đoàn viên, hội viên tích cực tham gia hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị.
3.7- Xiết chặt kỷ luật, kỷ cương, nêu cao tinh thần trách nhiệm và tính quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành ở tất cả các ngành, các địa phương:
Cùng với tập trung lãnh đạo thực hiện toàn diện các mặt công tác, phải lựa chọn cho được những công việc trọng tâm, trọng điểm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tạo sự chuyển biến toàn diện và rõ nét ở tất cả các ngành, các địa phương.
Phân công và làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu các ngành, các địa phương, người được giao phụ trách trên từng lĩnh vực công tác; định kỳ kiểm điểm đánh giá tình hình và kết quả thực hiện; kiên quyết điều chuyển, phân công, sắp xếp lại lĩnh vực, địa phương phụ trách hoặc đề nghị thi hành kỷ luật đối với những người thiếu tinh thần trách nhiệm, buông lỏng quản lý để cho ngành, địa phương hoặc lĩnh vực mình phụ trách trì trệ, có nhiều sai phạm... ảnh hưởng đến phong trào chung của tỉnh.
Trên cơ sở đánh giá giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, các ngành, các địa phương tập trung rà soát lại và chuẩn bị một bước phương án phát triển kinh tế - xã hội, cũng như phương án nhân sự cho Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ tới.
Lấy năm 2009 là “Năm đầu tư xây dựng cơ bản”. Trên tinh thần ấy, các ngành, các địa phương tập trung dồn sức lãnh đạo, chỉ đạo, tạo sự chuyển biến rõ rệt trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, làm tốt công tác giải phóng mặt bằng, giải ngân hết nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, nhanh chóng hoàn thành và đưa công trình vào phục vụ sản xuất và đời sống; góp phần cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn cho đầu tư phát triển, nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 13,5% trở lên.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh giao Đảng đoàn HĐND tỉnh, Ban Cán sự Đảng, UBND tỉnh thể chế hóa nghị quyết thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2009 để tổ chức chỉ đạo thực hiện.
Ban Thường vụ các huyện, thị, thành ủy, đảng ủy trực thuộc; các ban cán sự đảng, đảng đoàn; các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh căn cứ chức năng, nhiệm vụ và tình hình cụ thể của đơn vị, địa phương mình, cụ thể hóa thành các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi nghị quyết.
Các cơ quan thông tin đại chúng có kế hoạch tuyên truyền việc thực hiện nghị quyết, biểu dương những nơi làm tốt, phê phán, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc; nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Các ban của Tỉnh ủy giúp cấp ủy theo dõi, kiểm tra việc tổ chức thực hiện nghị quyết; cuối năm tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy đánh giá, làm rõ mức độ hoàn thành nhiệm vụ, trách nhiệm của các đơn vị trực thuộc, phân loại, bình xét, khen thưởng kịp thời.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh kêu gọi toàn đảng bộ, nhân dân các dân tộc, các lực lượng vũ trang trong tỉnh tiếp tục nêu cao truyền thống đoàn kết, cách mạng, phát huy cao nhất nội lực; tranh thủ các điều kiện và thời cơ mới, huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước; phấn đấu thực hiện thắng lợi kế hoạch năm 2009, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X.
T/M Ban Chấp hành
Bí thư
Nguyễn Văn Lợi