Ngày 5 tháng 9 năm 2010
Trang chủ Liên hệ Sơ đồ Web
English
Liên kết website
Thời tiết
TP. Hà Nội
Click xem chi tiet thoi tiet Ha Noi
TP. Hồ Chí Minh
Click xem chi tiet thoi tiet TP. Ho Chi Minh
Thanh Hóa
Click xem chi tiet thoi tiet Thanh Hoa
Giá vàng 9999
MUA VÀO
BÁN RA
Tỷ giá ngoại tệ
USD
EUR
GBP
JPY
Thăm dò ý kiến
Nhận xét về website
Phong phú
Bổ ích
Hơi ít
Quá ít
Thống kê truy cập
Lượt truy nhập

301877

Tham quan - Du lịch

 


 

Biển Sầm Sơn
 
 
Sầm Sơn là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi với bãi biển đẹp nổi tiếng bên núi Trường Lệ. Đây còn là vùng đất giàu bản sắc văn hóa độc đáo với nhiều lễ hội truyền thống. Nơi đây có thể khai thác, phát triển nhiều loại hình du lịch với lợi thế cạnh tranh cao như: tắm biển, tham quan, leo núi, nghỉ mát, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa... Với lợi thế sẵn có, nếu được quan tâm đầu tư hơn nữa, chắc chắn Sầm Sơn sẽ là điểm dừng chân lý tưởng của nhiều tour du lịch trong nước và quốc tế.
 
Khu du lịch Nghi Sơn
 
Khu Du lịch Nghi Sơn bao gồm xã đảo Nghi Sơn và xã Hải Thượng,Tĩnh Gia phía Đông - Nam thành phố Thanh Hóa. Với địa thế hiểm yếu, nơi đây đã từng là căn cứ quân sự của các tl:iều đại phong kiến và đặc biệt quan trọng dưới thời Tây Sơn - Nguyễn Huệ.
 
Đến với khu du lịch này, quý khách sẽ được tham quan các thành tựu kinh tế trong công cuộc đổi mới đất nước nước. Nhà máy Xi măng, cảng nước sâu, nhà máy lọc dầu (dự kiến đến năm 2013 sẽ đi vào vận hành). Ngoài ra, quý khách sẽ có dịp thăm lại các di tích cổ xưa như pháo đài Tĩnh Hải, Thành ông Ninh. Đặc biệt quý khách sẽ được thăm giếng Rửa Ngọc, nơi vẫn còn phảng phất hình ảnh bi thương của đôi tình nhân Trọng Thủy -Mỹ Châu.
 
Theo Thanhhoa.gov.vn
 
Tĩnh Gia mùa biển gọi
 
Cách thành phố Thanh Hóa khoảng 30km về phía Nam, biển Tĩnh Gia đẹp hoang sơ, thanh bình, vẻ đẹp của một bãi biển chưa có tên trên “bản đồ” du lịch Việt Nam. Sự hoang sơ, đầy quyến rũ của biển, sự thuần hậu, chất phác của người dân đã tạo nên sức hút với du khách khi đặt chân tới đây!

Nếu ví Tĩnh Gia là nàng công chúa ngủ trong rừng, chờ người khám phá vẻ đẹp tiềm ẩn quả không ngoa. Bởi Tĩnh Gia chưa bị cuộc sống hiện đại xáo trộn nhiều. Nơi đây, vẫn còn lưu giữ những nét hoang sơ được bao bọc trong thiên nhiên. Không có tiếng ỉ eo chèo kéo khách phá tan cảm giác bình yên giữa biển trời bao la… Người dân Hải Hoà rất mến khách, họ chủ yếu sinh sống bằng nghề đánh bắt hải sản và ai đến đây cũng được họ đón tiếp bằng những nụ cười thân thiện. Đến Tĩnh Gia mà không thưởng thức những món ăn đặc trưng của Tĩnh Gia như gỏi sứa chấm nước sốt, nộm sứa và bánh đa… thì coi như chưa biết đến “mùi, vị” của mảnh đất này.

Bình minh trên biển

Để đón được những tia nắng đầu tiên trên biển, nghe tiếng sóng vỗ và hít thở không khí trong lành, chúng tôi phải dậy từ năm giờ sáng. Thế nhưng, khi ra đến biển, tôi còn khám phá được bình minh của những người chọn bờ biển làm chốn mưu sinh. Ngày ngày, họ thức dậy vác lưới ra biển “đón bình minh” từ một, hai giờ sáng. Khi họ về nhà khoảng bảy giờ, mặc cho sóng trào, gió quất, mặc cho biển miệt mài lạnh lùng với cơn sóng dữ, họ sống chung với biển để tìm từng miếng ăn mỗi ngày.

Một mẻ lưới của họ có khoảng mười lăm gia đình cùng chung sức, từ những ông bà già cho đến trẻ em năm, sáu tuổi. Những người đàn ông, trụ cột chính trong gia đình sẽ ra biển quăng lưới từ một, hai giờ sáng. Khoảng bốn giờ, những người già, phụ nữ, và trẻ em ở nhà sẽ ra biển để cùng kéo lấy thành quả của gia đình. Nhìn những cánh tay già gầy guộc, những cánh tay trẻ còn non nót đang gắng sức kéo lưới, không ai bảo ai, cả nhóm chúng tôi lao xuống biển cùng chung tay với họ. Những tiếng hò, tiếng hét, tiếng cười vang của họ, của chúng tôi cùng hùa vào nhau thấy sao ấm áp lạ!

Công việc vất vả là vậy nhưng khi lưới được kéo lên thành quả chẳng đáng là bao! Những con cá nục, cá chuồn, cá chích, cá khoai bé như hai, ba ngón tay hay những con mực chỉ to hơn ngón chân cái bán cho lái buôn chẳng đáng bao tiền. Bán xong, cả gia đình họ ngồi ăn sáng ngay trên bãi biển. Bữa cơm của họ thật đạm bạc, chỉ có ba màu. M àu trắng của c ơm,m àuxanh của rau và màu nâu nâu của những con cá biển kho mặn - thành quả của những chuyến ra khơi trước. Trong bữa ăn, tiếng đàn ông ngồi kể chuyện về chuyến đi, tiếng người phụ nữ giục chồng, giục con ăn nhiều hơn. Tiếng đứa trẻ cười vang… Một bữa cơm ấm áp.

“Nổi lửa” trên biển

Tĩnh Gia mộng mơ hơn, rộn rã hơn trong buổi tối “nổi lửa” khi chúng tôi khuấy động không gian yên tĩnh của nơi này bằng cách đốt lửa nướng đồ ăn. Tíu tít cười nói, dọn đồ rồi ngồi chụm lại chắn gió để châm lửa, mặc gió thổi tứ phía, sau một hồi ngọn lửa cũng được thắp lên mỗi lúc mỗi nồng đượm. Chẳng mấy chốc mùi thơm quyến rũ của đồ nướng đã toả bay nức mũi. Lửa bập bùng trên nền biển đêm đen sẫm. Những người dân địa phương thân thiện cũng hào hứng tham gia chuyện trò và ăn uống cùng chúng tôi.

Đêm, gió biển mát lạnh. Đi bắt những con còng gió chạy thoăn thoắt trên cát chỉ bằng một chiếc đèn pin nhỏ cũng là một cái thú là lạ với “khách của biển”. Soi đèn xuống nước biển trong vắt. Nước xanh ánh lên loang loáng. Đứng ở mép bờ sóng vỗ, mỗi lúc nước rút lại xói từng rãnh cát dưới chân buồn buồn. Đuổi theo những con còng gió quả là một cuộc chạy đua tốn nhiều công sức. Tất nhiên những người địa phương không bắt còng gió “cò con” và vất vả như vậy, họ có cách bẫy rất đặc biệt. Buổi đêm, mang một cái xô có quết mắm tôm đặt ở bãi biển, sáng sớm chỉ cần ra chỗ “đặt bẫy” vác cái xô đầy chiến lợi phẩm mang về. Những người đánh bắt chuyên nghiệp này cũng cho biết, món còng gió rang rất thơm ngon và dùng làm món... nhắm thì tuyệt.

Tạm biệt Tĩnh Gia, cứ đau đáu một niềm hi vọng - lần sau ra biển sẽ còn được gặp lại những nét hoang sơ say lòng người như thế…
Hải Đường
 
 
Thành Nhà Hồ
   Vốn là thành Tây Đô hoặc Tây Giai nằm ở hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc do Hồ Quý Ly cho xây dựng năm 1397 và ít lâu sau lên ngôi vua, thay nhà Trần. Đây là công trình kiến trúc độc đáo, dùng toàn những phiến đá xanh kích thước lớn, có tấm nặng 15 - 20 tấn, ghè đẽo vuông vức gép lại. Tường thành cao trung bình 5 - 6 m, chỗ cao nhất là 10 m, chiều Bắc - Nam dài 870,5 m, chiều Đông - Tây dài 883.5. Bốn cổng thành mở theo hướng Nam - Bắc - Tây - Đông và đá được đục hình múi bưởi, xếp khít nhau tạo vòm. Cổng tiền phía Nam là cổng chính, có ba cửa, cửa giữa rộng 5.82m cao 5.75m, hai cửa bên nhỏ hơn một chút. Thành nhà Hồ trãi qua nhiều biến động nhưng phần tường và cổng vẫn giữ nguyên dạng.
 
 
Vườn Quốc gia Bến En
Vị trí: Vườn quốc gia Bến En thuộc địa phận huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hoá 36km về phía tây nam.
Đặc điểm: Tổng diện tích rừng tự nhiên là 16.634 ha, trong đó diện tích rừng nguyên sinh là 8.544 ha với một quần thể nhiều núi non, sông suối, vùng hồ trên núi với nhiều tên gọi và huyền tích về các địa danh.
Vườn quốc gia Bến En có nhiều sinh vật quí. Tại đây có tới 462 loài cây thuộc 125 họ thực vật, gồm những giống loài quí như lim xanh, lát hoa, chò chỉ, trai lý, bù hương... Có các loại thú quí hiếm như sói đỏ, gấu ngựa, vượn đen, phượng hoàng đất, gà tiền mặt vàng...

Phong cảnh của vườn quốc gia Bến En đầy thơ mộng. Hồ sông Mực rộng 3.000 ha với hơn 20 hòn đảo lớn nhỏ. Nhiều hang động nhũ đá lung linh huyền ảo.

Đến với vườn quốc gia Bến En, du khách có dịp tìm hiểu, nghiên cứu về các loài động thực vật quí hiếm ở đây, sống giữa rừng đại ngàn nghe chim kêu vượn hú thâu đêm, nướng cá bên khe suối... thật thú vị. Trong tương lai Bến En sẽ trở thành một khu du lịch rất hấp dẫn.
 
Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam
 
 
Suối cá Cẩm Lương
 
Vị trí: Hang cá Cẩm Lương thuộc xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hóa gần 80km.
Đặc điểm: Ở đây có đàn cá đông tới hàng ngàn con bơi lội tung tăng dưới lòng suối. Người dân địa phương coi đây là đàn cá “thần”, không bao giờ đánh bắt mà luôn tự nguyện bảo vệ đàn cá với mong ước thần linh ban cho mưa thuận gió hòa.
 
Trải qua đoạn đường dài gần 80km từ thành phố Thanh Hóa đến huyện Cẩm Thủy, một con đò sẽ đưa du khách sang tả ngạn sông Mã để đến thăm hang cá Cẩm Lương (hay còn gọi là suối Cá "thần"), một trong những thắng cảnh thiên nhiên có vẻ đẹp độc đáo của vùng đất xứ Thanh.

Hang cá là một hồ nước thật rộng lớn nằm trong lòng dãy núi Trường Sinh. Ðàn cá "thần" đông hàng ngàn con, tung tăng bơi lội dưới suối đổ dồn về phía bờ như để chào đón du khách đến thăm. Cá "thần" trông thật đẹp mắt, da cá óng mượt sắc vàng lẫn đen như khoác lên mình một lớp gấm quý; vây và môi cá hồng tươi rực rỡ, mỗi con nặng khoảng 20kg. Cá "thần" loại lớn chỉ ra khỏi hang vào những ngày nước lên. Cá sinh sản ở trong hang, cá con lớn đến tầm 2kg thì theo đường cửa hang bơi ra suối Ngọc. Ðàn cá chỉ bơi lội ở suối Ngọc chứ không mấy khi bơi ra khỏi ngã ba suối, nơi có đền thờ Tứ phủ Long vương.

Từ đầu nguồn, theo con đường lên dãy núi Trường Sinh rợp bóng cây đăng, du khách sẽ đến cửa động Ðăng ở độ cao 70m so với mặt đất. Bước vào động, những thạch nhũ đa sắc màu, lấp lánh như kim cương từ vách động, vòm động rủ xuống, mang đến cho du khách bức tranh bồng lai tiên cảnh tuyệt mỹ. Ðộng Ðăng cao ráo, thoáng mát, ngước mắt nhìn lên vòm động, có cảm giác đang đứng dưới một bầu trời đầy sao của đêm hè mát rượi. Lòng động mênh mông sâu thẳm như không có điểm tận cùng. Tiếng róc rách của con suối nhỏ nép mình bên vách động chợt thu hút sự chú ý của du khách. Ðó là khởi nguồn của dòng nước trong hang cá Cẩm Lương.
 
Ðến thăm hang cá, du khách đều có chung một câu hỏi: Vì sao lại gọi là cá "thần"? Truyền thuyết của người Mường kể rằng: xưa có hai vợ chồng hiếm muộn hàng ngày thường ra thửa ruộng bên suối để trồng trọt và bắt tôm cá ở suối làm thức ăn. Một hôm bà lão ra suối và vớt được một quả trứng lạ. Bà thả xuống nước rồi tiếp tục mò cua, bắt cá nhưng vẫn chỉ mò được quả trứng đó. Bà mang về nhà và ông bà bàn nhau cho gà ấp thử. Ít hôm sau, quả trứng đã nở ra một con rắn. Ông lão mang rắn ra thả ở suối Ngọc, nhưng cứ thả thì đến tối rắn lại về nhà. Lâu dần, rắn sống trong nhà thân quen như những con vật khác. Từ khi có rắn trong nhà, đồng ruộng không còn hạn hán, đời sống trong vùng thái bình, ấm no và hạnh phúc. Rắn được nhân dân trong làng tôn kính và gọi là chàng Rắn. Bỗng một đêm trời mưa to gió lớn, sấm chớp ầm ầm. Sáng hôm sau, dân làng thấy xác chàng Rắn dưới chân núi Trường Sinh, bên bờ suối Ngọc. Dân làng được thần linh cho biết: chàng chết vì đánh thủy quái về phá hoại bản làng nên đã được Ngọc Hoàng phong Thần và chức Tứ phủ Long vương. Nhân dân lập đền Ngọc bên bờ suối để tưởng nhớ công lao của Tứ phủ Long vương. Cũng từ đó, suối Ngọc trước cửa đền có đàn cá "thần" hàng ngàn con ngày đêm về chầu thần và canh gác nơi đền Ngọc. Hàng năm, vào ngày tế lễ Tứ phủ Long vương, ông từ làm lễ xin thần và chờ khi chiều xuống, đàn cá vào hang, con nào còn sót lại ở suối nghĩa là tự dâng mình làm lễ hiến sinh. Già làng mang cá ra đền cúng tiến thần linh rồi mời các cụ trong làng cùng hưởng. Lệ làng đến nay vẫn duy trì, do đó, đàn cá ở suối Ngọc không bao giờ vơi, mỗi ngày đông hơn và to ra. Bảo vệ đàn cá "thần" là việc làm tự nguyện trong tâm thức của bà con bản Mường nơi đây, với ước muốn thần linh ban cho mưa thuận gió hòa, đồng ruộng tốt tươi.
Nguồn ST
Đền Bà Triệu
Vị trí: Đền thờ bà Triệu được dựng trên núi Gai (còn gọi là núi Ải) sát đường quốc lộ 1A, thuộc làng Phú Điền, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội 137km.

Đặc điểm: Hiện nay lăng tháp vẫn còn, tuy đơn sơ, giản dị nhưng rất trang nghiêm. Trên đường thiên lý ra Bắc vào Nam, khách bộ hành thường dừng chân, lên núi Gai, tưởng niệm vị nữ tướng anh hùng, viếng lăng và thưởng ngoạn cảnh đẹp.Tên thật của bà là Triệu Thị Trinh, nhưng nhân dân quen gọi là Bà Triệu với lòng kính cẩn, nhớ công ơn bà đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược Ngô thế kỷ thứ 3.

Qua cổng là hồ sen, bốn bề kè đá. Tiếp theo là nhà Tiền đường gồm 5 gian, cột đá mài vuông cạnh. Sau nhà Tiền đường là một khoảng sân nhỏ, hai bên tả hữu là nhà tiếp khách và sửa lễ. Cuối sân là 3 gian hậu cung, dựng trên mặt bằng cao hơn, dựa vào vách núi. Đối diện với đền trên là núi Gai, ở phía bên kia quốc lộ 1A là núi Tùng - nơi có lăng Bà Triệu.
 
Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam
Di tích lịch sử Lam Kinh
 
Vị trí: Thành Lam kinh thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hóa 51km về phía tây.

Đặc điểm: Được xây xựng bởi vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi), thành Lam Kinh còn có tên là Tây Kinh.Nơi đây có lăng Lê Thái Tổ và bia Vĩnh Lăng mô tả ngắn gọn, cô đọng toàn bộ sự nghiệp của vua Lê Thái Tổ do Nguyễn Trãi biên soạn; Hựu lăng - Lăng vua Lê Thái Tông; Lăng Khôn Nguyên - Lăng Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Giao (mẹ Vua Lê Thánh Tông); Chiêu Lăng - Lăng vua Lê Thánh Tông; Dụ Lăng - Lăng vua Lê Hiến Tông; Kính Lăng - Lăng vua Lê Túc Tông; Đền Lê Lai.

Từ thành phố Thanh Hóa, theo tỉnh lộ 15A đi về hướng tây 51km, du khách sẽ gặp chiếc "nôi vàng". Ðó là Lam Kinh, nơi bắt đầu của thời kỳ hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, gắn liền với bản anh hùng ca đánh đuổi giặc Minh, thu giang sơn về một mối. Lam Kinh nằm trên đất huyện Thọ Xuân, một huyện đã sinh cho dân tộc Việt Nam hai đời Lê (Tiền Lê, Hậu Lê) - vùng đất mà cách đây gần một ngàn năm cụ tổ của Thái Tổ Cao Hoàng đế Lê Lợi thấy chim bay về đậu quây quần thành bầy, quyết định san đất dựng nhà.
 
Thành điện Lam kinh phía Bắc dựa vào núi Dầu (gọi là du sơn) mặt nam nhìn ra sông - có núi Chúa làm tiền án, bên tả là rừng Phú Lâm, bên hữu là núi Hương và núi Hàm Rồng chắn phía Tây. Khu Hoàng thành, cung điện và Thái miếu ở Lam Kinh được bố trí xây dựng theo trục Nam - Bắc trên một khoảng đồi gò có hình dáng chữ vương. Bốn mặt xây thành có chiều dài 314m, bề ngang 254m, tường thành phía Bắc hình cánh cung có bán kính 164m, thành dày 1m.
Về Lam Kinh du khách sẽ được thưởng thức hương vị cay cay ngọt ngọt của chè lam Phủ Quảng, một loại bánh làm bằng bột gạo nếp, mật mía, trộn lẫn lạc và gừng và được nếm cái dẻo quạnh, đen nhanh nhánh của bánh gai Tứ Trụ, cái béo ngậy, giòn thơm của cá rô Ðầm Sét rán vàng; những sản phẩm nổi tiếng của Lam Kinh.

Ở xứ Thanh nguời ta không nói "đến" Lam Kinh mà thường nói "về" Lam Kinh. Về nhà, về với khu di tích lịch sử, về với nơi khởi nguồn của những chiến tích hào hùng. Về Lam Kinh nơi diễn ra Hội thề Lũng Nhai. Một đêm năm Bính Thân (1416) 18 người con của đất nước hừng hực ý chí đứng trước đống lửa ngùn ngụt cháy, thề đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi.
 
Lam Kinh là đây chiếc "nôi vàng" của những sự tích ngọc. Chuyện về một nhà sư già mách Lê Lợi táng linh xa vào mảnh đất hình quốc ấn. Thế đất xoáy ốc, trước mặt có núi Chiêu làm hương án, tả có núi Rồng chầu về, hữu có núi Hồ chầu lại, tay phải Hồ Thuỷ, tay trái Long Sơn liên kết như chuỗi hạt châu phát ngôi Thiên tử. Chuyện về cây gươm thần do Lê Thận, người dân chài lưới trên sông dâng tặng, 10 năm theo Lê Lợi tung hoành trận mạc, để rồi sau khi đất nước thanh bình trả lại Rùa vàng làm nên sự tích Hồ Hoàn Kiếm giữa lòng thủ đô. Chuyện về lá rau cải in hình quả Quốc ấn, người vợ Lê Lợi làm vườn bắt được quả ấn vàng có chữ Lê Lợi đề trên lưng ấn. Chuyện về cô gái áo trắng chết nằm bên sông hóa hồ ly đánh lạc hướng kéo đàn chó ngao cùng lũ giặc Minh chạy ra khỏi nơi Lê Lợi đang ẩn nấp, cứu nhà vua một phen thoát hiểm. Chuyện về Lê Lai, lãnh tụ thứ hai của nghĩa quân, một trong số mười tám người ở Hội thề Lũng Nhai, đổi áo bào, nhận cái chết về mình, liều mình cứu chúa.

Hàng năm vào dịp tháng 8 âm lịch, lễ hội Lam Kinh lại bắt đầu. Ngày giỗ của Lê Lợi (22/8/1433) được cử hành trọng thể. Tiếng cồng chiêng âm vang rừng núi. Các điệu múa dân gian: Múa Xéc bùa, múa đèn Ðông Anh, múa rồng uyển chuyển bay lượn. Các trò chơi: Ném còn, dựng cây nêu, hát trò Xuân Phả náo nức lòng người.
 
Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam
 
 
Đền Độc Cước
 
Vị trí: Đền Độc Cước tọa lạc trên đỉnh núi mang tên hòn Cổ Giải thuộc dãy núi Trường Lệ ở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, ngay cạnh bãi tắm Sầm Sơn.
Đặc điểm: Đền mang tên Độc Cước (nghĩa là một chân), gắn liền với sự tích chàng trai khổng lồ đã tự xé đôi thân mình để vừa đánh giặc quỉ biển ngoài khơi và đánh giặc trong đất liền cứu dân làng.
 
Tưởng nhớ công ơn của chàng, người dân Sầm Sơn đã lập đền thờ chàng ngay bên tảng đá có vết lõm dấu chân khổng lồ tương truyền là bàn chân của chàng và sau này là đền Độc Cước.

Muốn lên đền phải qua 40 bậc đá. Đền được lập từ đời Trần (1225-1400), dựng lại vào thời Lê và đã qua trùng tu nhiều lần. Phía sau đền có Môn Lâu dựng năm 1863 bằng gỗ. Trong đền có tượng thần Độc Cước bằng gỗ chỉ có một tay, một chân. Chân tượng dựng vững chắc trên hòn đá tảng, tay tượng có cây búa ở tư thế đang vung về phía sau chiến đấu với loài quỷ biển. Đền có hai pho tượng ngựa đúc bằng đồng, cặp tượng phỗng tạc bằng đá khối, nhiều câu đối chữ nho ca ngợi công đức của thần Độc Cước.

Độc Cước không chỉ là một ngôi đền đẹp mà còn là một di tích của Sầm Sơn. Đền rất hấp dẫn đối với du khách trong nước và nước ngoài khi đến tắm mát, nghỉ ngơi ở Sầm Sơn.
 
Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam
 
 
 

 


 
 In bài này
Đặt làm trang chủ
      Tin thông báo
Bản đồ quy hoạch
Phim tư liệu
Tiêu điểm
Dự án Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn – nỗ lực trên chặng đường về đích
Dự án Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn là dự án có quy mô lớn nhất ở Việt Nam dự kiến năm 2013 sẽ đi vào hoạt động, góp phần quan trọng bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Đây là dự án liên doanh giữa tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam với Công ty dầu khí Quốc tế KPI/KPK của Cô Oét, Công ty Idemítsu Ko San Nhật Bản và Công ty hóa chất Mit Sui Nhật Bản với số vốn đầu tư khoảng trên 6 tỷ USD. Theo kế hoạch, đến hết tháng tháng 8-2010 sẽ bàn giao toàn bộ mặt bằng để triển khai xây dựng nhà máy.

Giai đoạn 2006 – 2009, tổng giá trị sản xuất công nghiệp tại Khu Kinh tế Nghi Sơn đạt gần 9.850 tỷ đồng
Kể từ khi Chính phủ có quyết định phê duyệt thành lập Khu Kinh tế Nghi Sơn, đến nay UBND tỉnh đã không ngừng tập trung chỉ đạo, đổi mới công tác xúc tiến thu hút đầu tư bằng nhiều hình thức, đã đạt hiệu quả khá.

Đến ngày 30-4, bàn giao xong mặt bằng chính cho Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn và Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn
Từ đầu năm đến nay, huyện Tĩnh Gia đã phối hợp với Ban quản lý KKT Nghi Sơn, các ban, ngành có liên quan của tỉnh tập trung cao cho công tác giải phóng mặt bằng, đặc biệt là các dự án trọng điểm tại KKT Nghi Sơn như dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn, Trung tâm Nhiệt điện Nghi Sơn, mở rộng đường 513, hệ thống cấp nước thô, các khu tái định cư...

Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng thăm và làm việc với Khu kinh tế Nghi Sơn
Chiều ngày 11/12 đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, Ủy viên Bộ Chính Trị, Phó Thủ tướng thường trực Chính Phủ đã có chuyến thăm và làm việc tại Khu Kinh tế Nghi Sơn. Tiếp đồng chí có đồng chí Mai Văn Ninh, Phó Bí thư Tỉnh Ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; đồng chí Lê Đình Thọ, Trưởng Ban Quản lý KKT Nghi Sơn cùng lãnh đạo các phòng, ban chuyên môn của Ban Quản lý.

Khu kinh tế Nghi Sơn: Mít tinh hưởng ứng "tuần lễ quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động - phòng chống cháy nổ năm 2009"
Ngày 17/3/2009, Tại mặt bằng Nhà máy Lọc hoá dầu Nghi Sơn. Ban quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn đã tổ chức trọng thể buổi mít tinh hưởng ứng “tuần lễ quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động - phòng chống cháy nổ năm 2009”.

Dự án trọng điểm
Bản quyền thuộc về Ban quản lý Khu kinh tế Nghi Sơn
Địa chỉ: Trúc Lâm - Tĩnh Gia - Thanh Hóa
Điện thoại: 0373.617.239 – Fax: 0373.617.239
Email: kktnghison@thanhhoa.gov.vn - Website: http://www.nghison.gov.vn